Ngày 26/03/2026, Thành uỷ Hà Nội đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết số 02‑NQ/TW của Bộ Chính trị về "Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới” kết nối tới các điểm cầu các sở, ban ngành và các cơ sở đảng. Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy dự và chỉ đạo Hội nghị. Tại Trường Đại học Công đoàn, các đồng chí trong Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, Bí thư các chi bộ và lãnh đạo các đơn vị đã tham dự đầy đủ, nghiêm túc. Điểm cầu của Nhà trường do đồng chí Lê Mạnh Hùng – Ủy viên BCH Đảng bộ các trường Đại học, Cao đẳng Hà Nội, Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng chủ trì.

Hội nghị lần lượt học tập, nghiên cứu và quán triệt các chuyên đề, các nội dung chính của Nghị quyết 02 và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết như sau:
1. Quán triệt điểm mới trong Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về "Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới”, đồng chí Nguyễn Văn Phong -Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội trình bày các nội dung cơ bản:
Bộ Chính trị xác định mục tiêu phát triển mang tính dài hạn với tầm nhìn 100 năm (đến năm 2045 và năm 2065).
Cụ thể, đến năm 2035: Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại; hội tụ tinh hoa văn hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; có năng lực cạnh tranh cao, chính trị - xã hội ổn định, thành phố thanh bình, người dân hạnh phúc, trở thành điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn.
Đến năm 2045: Hà Nội trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi hội tụ tri thức và công nghệ; hạ tầng, quản trị đô thị hiện đại; người dân có chất lượng sống cao; xã hội văn minh, an toàn, đáng sống, hạnh phúc.
Về chỉ tiêu, trong giai đoạn 2026 - 2030: Phấn đấu tăng trưởng GRDP bình quân hơn 11%/năm (Điểm mới: Khát vọng bứt tốc lớn hơn so với chỉ tiêu theo Nghị quyết 15).
Đến năm 2030, quy mô GRDP đạt hơn 113 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 12.000 USD; tỷ lệ đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 57%; tỷ trọng kinh tế số đạt tối thiểu 40% GRDP; tỷ trọng công nghiệp văn hóa đạt khoảng 9% GRDP;
Giai đoạn 2031 - 2035: Duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân từ 11% trở lên; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều sâu. Đến năm 2035, quy mô GRDP đạt khoảng 200 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người tiệm cận mức thu nhập của các đô thị phát triển trong khu vực, đạt tối thiểu 18.800 USD; tỷ lệ đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 60%; tỷ lệ đóng góp của kinh tế số vào tăng trưởng đạt 50%; tỷ trọng công nghiệp văn hóa đạt từ 10% trở lên.
Giai đoạn 2036 - 2045: Duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hơn 11%/năm. Đến năm 2045, quy mô GRDP đạt khoảng 640 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người thuộc nhóm cao trong khu vực, đạt tối thiểu 42.000 USD; tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng; tăng tỷ trọng kinh tế số, công nghiệp văn hóa trong GRDP; duy trì chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao.
Giai đoạn 2046 - 2065: Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hơn 5,0%/năm. Đến năm 2065, quy mô GRDP đạt khoảng 1.920 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người thuộc nhóm cao, đạt tối thiểu 95.000 USD.
Để thực hiện Nghị quyết, hệ thống chính trị của Thành phố tập trung thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực: (1) Quy hoạch Thủ đô 100 năm; (2) Đẩy mạnh liên kết, phát triển vùng; (3) Xây dựng thể chế đột phá phát triển Thủ đô; (4) Phát triển toàn diện văn hoá, con người Thủ đô; (5) Xác lập mô hình tăng trưởng mới; (6) các nhóm việc cụ thể logictics, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (7) huy đông, khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực; (8) Giữ vững QPAN, trật tự, an toàn xã hội, nâng tầm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; (9) Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đầu của Đảng bộ Thành phố.
2. Định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm do Đồng chí Dương Đức Tuấn - Ủy viên BTV Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố trình bày với các nội dung cơ bản sau:
Quy hoạch xác định rõ quy mô dân số theo từng giai đoạn: Đến năm 2035 khoảng 14-15 triệu người; năm 2045 khoảng 15-16 triệu người; năm 2065 khoảng 17-19 triệu người và sau đó khống chế không quá 20 triệu người.
- Cấu trúc đô thị được định hình theo không gian mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo, hình thành không gian phát triển mới mang tính biểu tượng.
- Cấu trúc mới gồm 9 cực tăng trưởng, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực thay cho mô hình cũ. Các trục như: Nhật Tân - Nội Bài, Hồ Tây - Cổ Loa - Gia Bình, Quốc lộ 5, Quốc lộ 1A, Đại lộ Thăng Long, Quốc lộ 32 và trục sông Hồng được xác định vừa là trục giao thông, vừa là trục phát triển kinh tế.
- Đột phá được xác định là phát triển đô thị theo mô hình TOD, lấy đường sắt đô thị làm chủ đạo, bổ sung các tuyến liên vùng, nâng tổng chiều dài mạng lưới metro lên khoảng 1.153km, góp phần kéo giãn dân cư nội đô, hình thành các không gian đô thị mới.
- Tái thiết đô thị khu vực trung tâm, hai bên sông Hồng, khu phố cổ, phố cũ, Hồ Tây và các khu chung cư cũ; đồng thời khai thác không gian ngầm với hệ thống bể chứa nước, thoát nước đa năng, mục tiêu ngầm hóa trên 40% khu vực lõi đô thị.
- Làm sống lại các dòng sông Tô Lịch, Nhuệ, Đáy; phát triển giao thông công cộng năng lượng sạch; xử lý rác thải phát điện, tái chế, không chôn lấp; mở rộng rừng, công viên rừng theo cấu trúc “Rừng trong thành phố - Thành phố trong rừng”.
3. Tóm tắt Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi), đồng chí Nguyễn Xuân Lưu - Ủy viên BTV Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã báo cáo Hội nghị nhiều nội dung đột phá về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn lực và cơ chế quản trị đô thị. Cụ thể:
- Xác định mục tiêu hoàn thiện thể chế đặc thù, vượt trội, ổn định, dài hạn, phù hợp vị trí Thủ đô là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục, y tế và hội nhập quốc tế. Qua đó, tạo hành lang pháp lý để Hà Nội thí điểm, đánh giá và hoàn thiện các cơ chế, chính sách mới trước khi nhân rộng.
- HĐND, UBND thành phố được quy định khác với văn bản Trung ương khi thực hiện thẩm quyền phân quyền; được điều chỉnh trình tự, thủ tục; được thí điểm cơ chế, chính sách mới. Trong tổ chức bộ máy, thành phố được quyết định số lượng, chức năng cơ quan chuyên môn, biên chế, chính sách thu nhập, tuyển dụng, thu hút nhân tài.
- Trong quy hoạch, thành phố chỉ lập một Quy hoạch tổng thể Thủ đô thay thế các quy hoạch trước; chủ động phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch, quyết định lộ trình di dời cơ sở không phù hợp; khai thác không gian ngầm, tầm thấp, tầm cao để mở rộng không gian phát triển. Phát triển đô thị được định hướng đa trung tâm, xanh, thông minh, gắn với nhà ở xã hội, tái định cư và mô hình TOD. Thành phố được linh hoạt chuyển đổi loại hình nhà ở để đáp ứng nhu cầu thực tiễn và an sinh xã hội.
- Quy định cho phép Hà Nội ban hành cơ chế huy động nguồn lực đầu tư hạ tầng giao thông hiện đại, ưu tiên vận tải công cộng, hạn chế phương tiện cá nhân, phát triển logistics và giao thông xanh. Thành phố được áp dụng vùng phát thải thấp, di dời cơ sở gây ô nhiễm, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
- Thành phố được quy định mức xử phạt cao hơn nhưng không quá hai lần mức chung; được ngừng cung cấp điện, nước đối với công trình vi phạm.
- Thẩm quyền của thành phố cũng được mở rộng trong văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, khoa học công nghệ và chuyển đổi số; được quyết định giá dịch vụ y tế, tổ chức khám sàng lọc định kỳ, hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm, miễn thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia, áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
- Về nguồn lực, thành phố được chủ động điều hành ngân sách, phát hành trái phiếu, hợp tác công - tư, khai thác tài sản công, thu hút đầu tư và phát triển các mô hình kinh tế mới. Cơ chế liên kết vùng, Quỹ Phát triển vùng Thủ đô và chương giám sát, giải trình được thiết kế nhằm kiểm soát quyền lực chặt chẽ.
Tiếp đó, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã trình bày
4. Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về "Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới” một cách đồng bộ, hiệu quả do đồng chí Nguyễn Xuân Lưu tiếp tục trình bày:
- Mục tiêu xuyên suốt là cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển, nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng xây dựng Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”. Ngay từ khâu xác định mục đích, chương trình nhấn mạnh yêu cầu tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ trước mắt với định hướng phát triển dài hạn đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Chương trình xác lập hệ thống nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình trọng điểm có tính lan tỏa, đi kèm phân công trách nhiệm và lộ trình thực hiện. Các cấp ủy, chính quyền được yêu cầu lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả; đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; tăng cường công khai, minh bạch và giám sát của nhân dân.
- Hà Nội sẽ xây dựng Quy hoạch tổng thể tầm nhìn 100 năm theo mô hình đô thị đa cực, đa trung tâm, kết hợp hài hòa giữa đô thị và sinh thái. Hạ tầng giao thông được đầu tư đồng bộ, trong đó ưu tiên phát triển nhanh đường sắt đô thị, kết nối liên vùng, từng bước làm chủ công nghệ vận hành. Cùng với đó là phát triển hạ tầng số, khai thác không gian ngầm, không gian trên cao..
- Quy hoạch đồng thời gắn với tái cấu trúc đô thị hiện hữu, cải tạo chung cư cũ, khu vực hạ tầng yếu kém, phát triển các khu chức năng mới như trung tâm tài chính, khu thương mại tự do, khu công nghệ cao Hòa Lạc. Hà Nội cũng được xác định giữ vai trò hạt nhân trong liên kết vùng.
- Chương trình nhấn mạnh xây dựng thể chế đột phá thông qua hoàn thiện Luật Thủ đô, đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền, triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, xây dựng mô hình quản trị đô thị dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
- Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, Hà Nội tập trung bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, an sinh xã hội, thu hút nhân lực chất lượng cao.
- Thành phố cũng chú trọng phát triển các ngành kinh tế thế mạnh như tài chính, logistics, công nghiệp sáng tạo, kinh tế đêm, nông nghiệp đô thị công nghệ cao.
- Nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ được xác định là then chốt. Việc tổ chức thực hiện chương trình sẽ được kiểm tra, đánh giá hằng năm, sơ kết giữa nhiệm kỳ và tổng kết vào năm 2030.
5. Phát biểu kết luận hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc cho biết, hội nghị quán triệt Nghị quyết số 02-NQ/TW được tổ chức với tinh thần chủ động, tiên phong, khẩn trương và nghiêm túc để triển khai ngay Nghị quyết vào cuộc sống. Tập trung vào nhận thức và hành động như sau:
Một là, Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị là cơ sở chính trị đặc biệt quan trọng để Thủ đô phát triển bứt phá trong kỷ nguyên giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc cùng đất nước; là bản thiết kế tổng thể và lộ trình hành động đồng bộ bộ ba trụ cột chiến lược: Thể chế - Quy hoạch - Mô hình phát triển mới của Thủ đô với tầm nhìn 100 năm; hình thành khung khổ thể chế vượt trội, mở ra không gian phát triển mới Thủ đô.
Hai là, Nghị quyết đặt ra yêu cầu tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, quản trị thực thi và sức chiến đấu của Đảng bộ và xuyên suốt 4 trục của hệ thống chính trị thành phố; đưa thể chế, quy hoạch, cơ chế chính sách về Thủ đô trở thành lợi thế cạnh tranh khu vực và quốc tế. Các cấp ủy Đảng phải thực sự là hạt nhân lãnh đạo, tiên phong trong đổi mới tư duy và hành động.
Ba là, bộ ba trụ cột chiến lược: Thể chế - Quy hoạch - Mô hình phát triển mới của Thủ đô với tầm nhìn 100 năm đòi hỏi một năng lực tư duy đột phá và kỷ luật thực thi vượt trội; đặt ra yêu cầu rất cao về tính kiên định trong đường lối lãnh đạo, tính quyết liệt, đổi mới sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành và năng lực quản trị rủi ro trong quá trình triển khai thực hiện.
Bốn là, Đảng bộ và hệ thống chính trị thành phố nhận thức rõ, phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới là sứ mệnh lịch sử vẻ vang nhưng cũng là trọng trách hết sức to lớn. Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị không chỉ là định hướng, mà là danh dự và mệnh lệnh hành động để Thủ đô xứng đáng với vị thế, vai trò và kỳ vọng của Trung ương và cả nước.
Kết thúc Hội nghị, tại điểm cầu của Trường, đồng chí Lê Mạnh Hùng -UV BCH Đảng bộ các trường Đại học, Cao đẳng Hà Nội, Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng Nhà trường đã quán triệt các đồng chí trong Cấp uỷ, Ban Giám hiệu, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt các đơn vị tiếp tục nghiên cứu, học tập, áp dụng phù hợp với lĩnh vực, vị trí công tác; đồng thời tăng cường phổ biến, quán triệt các nội dung của Nghị quyết số 02 ngay tại sinh hoạt chi bộ và tham gia tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân và sinh viên.

Hình ảnh các điểm cầu tại Đảng bộ Trường Đại học Công đoàn
THS. TRẦN MẠNH CƯƠNG
VĂN PHÒNG ĐẢNG ỦY; HỘI ĐỒNG TRƯỜNG VÀ ĐT